slogan-01

Không hiểu lý do nào ông bà Hai lấy chữ Hụi để đặt tên cho con. Lúc còn nhỏ, Hụi trông khôi ngô sáng sủa lắm. Chú lại ít bị bệnh hoạn và rất chóng lớn. Năm lên bốn tuổi, chú đã lớn kịp Hùng, anh ruột chú, lớn hơn chú hai tuổi. Hai anh em cũng ham chơi, nghịch ngợm như bao trẻ con cùng trang lứa trong vùng.

   Ngày đầu cha mẹ Hằng dọn nhà tới ấp Năm, Hằng đã biết Hùng và Hụi là hai anh em, nhưng không phân biệt được đứa nào anh đứa nào em. Hai đứa rất giống nhau và tác người cũng ngang cỡ nhau như hai đứa sinh đôi vậy, chúng lại chỉ kêu nhau bằng tao với mày. Mãi tới khi nhập bọn chơi chung với nhau rồi Hằng mới biết Hụi là em Hùng, lại cùng tuổi với mình.

   Hằng ở vùng gần núi, cây cối rậm rạp nên có nhiều giống chim chóc sinh sống. Gần đó cũng có một khu đất lớn, hình như tốt về phong thủy nên những nhà giàu nhiều nơi hay đến chôn mồ mả, dân địa phương gọi là "Cồn Mồ". Khách thành thị nhiều người đi thăm viếng lăng mộ qua đây ghé nghỉ chân đều tỏ ra mê say thích thú cái cảnh ngồi dưới bóng cây râm mát nghe chim hót líu lo. Mấy đứa trẻ vẫn hay bắt chim con để nuôi chơi. Trẻ con đứa nào cũng rất ưa chim và cưng quí chim như vàng. Mấy đứa khôn ngoan thỉnh thoảng lại bán cho khách thành thị nhiều con chim với một giá "ngon lành". Khách ưa nhất là giống chim sáo, chim cưỡng vì hai giống chim này ngoài vẻ đẹp và hót vui tai, lại có thể huấn luyện biết tuân lệnh người, bắt chước tiếng người.

   Cha mẹ Hằng làm nghề thợ may cho nên không bao giờ kiếm được một con chim cho Hằng nuôi. Hằng vẫn ước mơ đến nhập tâm làm sao có được một con sáo mà khi nghe tiếng Hằng huýt thì nó nhanh nhẹn nhảy lên vai, lên tay Hằng như những đứa trẻ khác đã làm. Hằng thường nhìn những đứa bạn săn sóc chim, cưng chim mà thèm thuồng. Chưa khi nào có chim nhưng Hằng đã tập được một giọng huýt rất sành sỏi, linh động. Hằng có thể giả giọng chủ chim để huýt, bất cứ con chim nào dù đã được huấn luyện kỹ nghe cũng phải lầm. Nhưng với cách đùa cho đỡ ghiền này, Hằng hay gặp phản ứng, có khi dữ tợn, của những đứa trẻ khó tính. Có đứa đã gây sự, gán cho Hằng tội muốn ăn cắp chim.

   Năm Hằng lên bảy thì trong làng bắt đầu mở trường học. Hùng, Hụi và Hằng đều được xếp vào học một lớp. Ba đứa đều học hành siêng năng chăm chỉ, thầy giáo rất hài lòng. Kết quả năm học đầu tiên Hụi đứng đầu lớp, Hùng đứng thứ ba và Hằng đứng thứ sáu trong một lớp trên bốn chục học sinh đủ cỡ tuổi từ 6 đến 12.

   Đầu năm học kế tiếp, cả Hùng lẫn Hụi đều được cha mẹ thưởng cho mỗi đứa một con chim sáo vừa mới nhú lông ống. Hùng và Hụi vô cùng sung sướng. Ngày nào chúng cũng đều bỏ nhiều thì giờ ra các bãi cỏ bắt châu chấu, dế hay chuồn chuồn cho chim ăn. Mỗi lần Hằng trông thấy bạn nhón con mồi bỏ vào miệng chú chim nhỏ xíu đang hả lớn rồi ngậm lại nuốt ực một cái thì thích thú lắm. Hằng vẫn thường đi theo Hùng và Hụi để bắt mồi giùm. Hai con chim lớn như thổi. Không bao lâu chúng đã đủ lông đủ cánh, nhảy nhót và bay được từng đoạn ngắn. Chúng cũng bắt đầu biết tuân theo vài khẩu lệnh của chủ. Hai đứa trẻ cũng bắt đầu say sưa với cái thú huấn luyện con chim của mình. Hằng cũng muốn làm huấn luyện viên phụ nhưng Hùng không ưa.

Chỉ có Hụi, hình như thông cảm được ước muốn của Hằng, chịu để cho Hằng tham gia huấn luyện con chim với mình. Một lần Hụi cầm con chim đưa cho Hằng:

   -Cho mày mượn chơi một buổi đó!

   Hằng sung sướng cám ơn rối rít rồi cầm chim chạy về nhà khoe với mẹ. Nhưng chỉ được một lát, Hằng đem trả lại cho Hụi. Hụi ngạc nhiên hỏi:

   -Mày cứ chơi với chim đi, tao cho mày mượn một buổi lận mà!

   -Tao vẫn rất muốn chơi nhưng má tao không cho chơi. Má tao bảo nếu lỡ làm chim chết mày bắt đền không có mà đền.

   -Không, dẫu chim có chết tao cũng không bắt đền mày đâu. Và lần khác, khi nào thích chơi chim mày cứ nói tao cho mượn.

   Từ đó hai đứa trẻ gần như chơi chung con chim sáo ấy. Hình như Hằng có khiếu và siêng huấn luyện chăm sóc con chim hơn nên chẳng bao lâu con sáo của Hụi cũng khôn vượt hẳn con sáo của Hùng. Con sáo này có thể nghe lệnh gọi mà đến, nghe lệnh đuổi mà xa ra, biết tuân hành được cả lệnh lượm một cọng rác mang tới cho chủ. Buổi tối đến, sáo đi với Hằng thì Hằng giữ mà đi với Hụi thì Hụi giữ. Mỗi đứa đều đã sắm một cái lồng riêng để bảo vệ chim tránh nanh vuốt lũ mèo. Lũ trẻ và cả người lớn ai cũng trầm trồ khen từ trước tới nay chưa có một người nào huấn luyện được một con sáo khôn đến thế. Người ta đặt thêm cái tên mới cho con sáo của Hụi là sáo khôn để phân biệt với con của Hùng là sáo khờ.

   Những khi cái lồng của Hụi trống không là biết con sáo khôn ngủ ở nhà Hằng. Lần lần con sáo càng quấn quít với Hằng hơn với Hụi. Thành ra cái lồng của Hụi có khi vắng vẻ suốt tuần. Mẹ Hụi thấy vậy, một hôm nói đùa với những người trong nhà:

   -Mấy bữa nay con sáo khôn cứ về ngủ với mẹ nó chứ không chịu về ngủ với ba nó à?

   Mọi người cười ồ lên. Trong khi Hùng cười to tiếng và cười dai nhất thì Hụi bẽn lẽn cúi gầm mặt. Cha Hụi nhìn Hụi nói thêm:

   -Trông cũng xứng đôi vừa lứa đó chứ! Con thích không ba lo trước cho!

   Mọi người lại thêm một trận cười nữa.

   *

   Sáng hôm sau, Hụi gặp mặt Hằng liền nói:

   -Hằng ơi, tao cho mày con sáo khôn đó nghe. Từ nay mày giữ lấy nó một mình mà chơi! Mày muốn làm gì tùy mày.

   Ban đầu Hằng ngạc nhiên và lo lắng nhưng sau thấy Hụi có vẻ thiệt tình không có chút giận hờn nên sung sướng lắm. Đây là lần đầu Hằng chính thức làm chủ một con chim. Con sáo tuy khôn nhưng không thể tự túc kiếm ăn. Việc bay để kiếm mồi, trừ chính cha mẹ nó không ai huấn luyện được cho nó. Hình như cũng từ đó nó chỉ biết có Hằng chứ chẳng luyến lưu chi người chủ cũ. Hụi trở thành người đi kiếm mồi giúp cho Hằng.

   Một buổi chiều Hụi đang học bài bỗng nghe tiếng Hằng khóc bù lu bù loa ngoài đường. Hụi lật đật bỏ vở chạy ra. Lúc ấy Hằng đang cầm con sáo mới chết còn nóng hổi mà khóc. Mấy đứa nhỏ đang đứng vây quanh Hằng. Hụi lật đật hỏi:

   -Con sáo vì sao chết vậy?

   Hằng vừa khóc tức tưởi vừa nói:

   -Thằng... Thiệt... nó ...bắn...

   Thế là Hụi lao đi như một mũi tên. Mấy đứa nhỏ cũng ùa chạy theo. Hằng cũng cầm con sáo chết lẽo đẽo chạy sau cùng. Tụi nhỏ đến nhà thằng Thiệt kịp lúc chứng kiến một trận thư hùng giữa Hụi và Thiệt. Thiệt lớn hơn Hụi tới bốn tuổi và lớn xác hơn, nhưng hình như nó biết có lỗi nên cứ vừa đỡ đòn vừa thụt lùi trong khi Hụi cứ tấn công liều mạng. Hụi lăn xả vào ôm được chân Thiệt và cắn một miếng vào bắp vế muốn đứt thịt ra làm Thiệt hét lên một tiếng lớn rồi vùng chạy.

   Mất con Sáo, Hằng cứ buồn rầu mãi. Hụi cũng buồn nhưng ngày nào cũng an ủi, khuyên dỗ Hằng. Hụi hứa nhất định sẽ tìm cho Hằng một con chim khác. Và ngày nào nó cũng len lỏi đi tìm tổ chim. Thế rồi một hôm Hụi vui vẻ đến nói với Hằng:

   -Tao đã tìm được một tổ quạ, ngày mai mày đi với tao mà xem tao bắt. Tao cho mày lựa hai con nào mày thích nhất.

   Nghe Hụi nói, mặt Hằng rạng rỡ hẳn lên. Nụ cười vắng vẻ trên môi Hằng mấy hôm nay bây giờ tươi trở lại:

   -Thật hả Hụi? Ngày mai tao đi với mày! Tao đem kẹo cho mày ăn nữa.

   Thế là hôm sau Hùng, Hụi và Hằng dẫn nhau đi bắt tổ quạ. Ba đứa vòng vòng băng qua nhiều rẫy, sau hết chúng đến một cái rẫy trồng nhiều cây ăn trái. Tổ quạ làm trên một cây xoài, cách mặt đất chừng sáu thước. Hụi hăng hái cầm một chiếc tất lính khá rộng và dài leo lên cây. Hụi leo thoăn thoắt như một con vượn. Hùng và Hằng nhìn theo với vẻ thán phục lắm. Thoắt một cái, Hụi đã vói thấu tổ chim. Hai chân Hụi ghìm cứng vào thân cây xoài. Một tay Hụi nắm một nhánh xoài đồng thời kẹp chiếc tất chừa nửa miệng, tay còn lại thì sờ lên tổ chim. Mấy con quạ con nghe tiếng động lạ nép mình im phăng phắc. Hụi đang thò tay vào tổ thì giựt nẩy mình: rựt, rựt, rựt... Mấy con chim bay ra, hết con này đến con khác. Loạt chót hai con cùng bay ra mộ lần. Trong lúc hoảng hốt bối rối, Hụi buông luôn cả tay đang giữ cành xoài mà rướn người chồm theo bắt con chim. Rủi thay, chim thì không bắt được mà Hụi lại té nhào xuống đất nằm bất động. Hùng thấy thế chạy lại ôm Hụi đỡ dậy mà khóc nức nở. Hằng mặt tái mét run lẩy bẩy đứng một chỗ chẳng biết làm gì. Nhưng một lát sau thì Hụi mở mắt ra hỏi:

   -Còn con quạ nào không?

   Câu hỏi làm cho cả Hùng lẫn Hằng vừa mừng vừa tức cười. Thế là chúng vội kéo nhau về. Sợ bị la rày, cả ba đứa không hề tiết lộ chuyện đi bắt quạ cho ai hay cả.

   *

   Suốt bốn tháng đầu niên khóa Hụi đều đứng đầu lớp. Hui tỏ ra là một đứa trẻ thông minh hiếm có. Thầy giáo nhận xét không thể có một trò nào kế tiếp đó có thể chen chân thay thế Hụi được. Thầy mừng cho gia đình Hụi, mừng cho cái ấp hẻo lánh và cũng mừng cho chính mình có duyên gặp được một học trò thiên tài.

   Nhưng qua tháng thứ năm thầy giáo rất ngạc nhiên thấy Hụi học hành sa sút một cách tệ hại. Trước đây, mỗi khi gọi Hụi lên hỏi bài, thầy giáo coi như là một cách nhắc khéo bài vở cho những học trò khác. Cái giọng lanh lảnh, rõ ràng, trơn tru của Hụi như một dấu ấn đập mạnh vào trong óc những trò nào chưa nhớ phải nhớ. Nhưng bây giờ thầy giáo thất vọng thấy bài học nào Hụi cũng không thuộc, bài làm nào Hụi cũng làm sai. Hai trò ngồi bên cạnh Hụi lâu nay cứ chép bài tập của Hụi bây giờ cũng ngẩn ngơ lúng túng.

   Chiều kia, thầy giáo ghé thăm nhà Hụi, cũng may gặp lúc cha mẹ Hụi đều ở nhà. Thầy giáo nói cho ông bà biết về việc học hành của Hùng và Hụi. Thầy cũng hỏi tình trạng Hụi sống trong nhà có gì khác thường không. Bấy giờ ông bà Hai mới để ý nhớ là trong thời gian gần đây Hụi cứ hay ngồi thẫn thờ một mình nhìn đâu đâu mà miệng cứ lảm nhảm không biết nói gì. Thật tình khi thấy cảnh trạng đó hai ông bà cứ nghĩ là Hụi nhẩm đọc bài học. Ông bà cũng sực nhớ tới là độ này Hụi cũng không còn siêng tắm rửa như trước. Áo quần mặc Hụi cũng quên thay làm cho bà Hai phải nhắc.

   Từ đó cha mẹ Hụi bắt đầu theo dõi Hụi. Một hôm thấy Hụi ngồi nói lảm nhảm, mẹ Hụi len lén lại đằng sau nghe thử Hụi nói gì. Bà chỉ nghe lỏm bỏm mấy tiếng "tao cho mày hai con quạ đẹp nhất". Bà lên tiếng hỏi:

   -Này Hụi, con nói cho ai hai con quạ thế?

   Hụi trả lời:

   -Ừ, ừ, phải rồi, cho nó hai con quạ đẹp nhất!

   Nói xong Hụi bỏ đi ngồi chỗ khác.

   Mẹ Hụi thấy lạ quá đi theo hỏi nữa thì Hụi cũng trả lời y như trước và lại bỏ đi chỗ khác lần nữa. Lần thứ ba khi thấy mẹ đến gần, Hụi không nói gì nữa mà vội tránh ngay. Bà lo sợ kêu Hùng lại hỏi:

   -Quạ ở đâu mà thằng Hụi cứ nói cho ai đó hai con đẹp nhất con biết không?

   Hùng biết rằng khó giấu nổi mẹ nữa nên đem chuyện Hụi leo bắt tổ quạ rồi bị té nói cho mẹ nghe. Bà mẹ vô cùng hoảng hốt. Thế này thì đúng là tại con mình nghịch ngợm trèo phá phách nhằm chỗ linh thiêng rồi! Không kịp hỏi ý chồng, bà sai Hùng chạy đi mua ngay một nắm bông và mấy nải chuối, bà lại làm thịt một con gà trống rồi dắt hai anh em đến ngay nơi Hụi bị té để cúng tạ lỗi với thánh thần. Tối đến, bà lại sắp đặt lễ vật cho chồng cúng lạy ông bà tổ tiên trong nhà cũng như kẻ khuất mặt khuất mày bên ngoài xin phù hộ cho Hụi được tai qua nạn khỏi.

   Nhưng chứng bệnh lạ của Hụi không lành mà ngày càng nặng thêm. Ông bà Hai phải chạy đôn chạy đáo lo đủ thầy thuốc, thầy cúng, thầy bói đến kiệt quệ. Cuối cùng ông bà Hai đành phải buông xuôi.

   Hai tháng sau Hụi phải bỏ học. Hằng ngày Hụi cứ ngồi thẫn thờ trước cửa ngó ra đường. Thấy người quen không chào, thấy người lạ không hỏi, ai làm gì cũng mặc. Ăn xong lại ra cửa ngồi. Ngồi không biết chán. Ngồi buổi này qua buổi khác. Khi bị ai nói năng rày rà Hụi lại bỏ đi tìm chỗ khác để ngồi. Người ngoài không rõ, ai có việc hỏi đến Hụi, Hụi cũng không quay lại nhìn mặt người hỏi mà chỉ trả lời:

   -Ừ, ừ, phải rồi, không biết!

   Thế rồi thôi. Nếu có ai hỏi gặng vài ba lần thì Hụi lại không trả lời nữa mà bỏ đi ngồi chỗ khác. Mẹ Hụi bấy giờ ngoài việc phải lo chăm sóc từng miếng ăn cho Hụi, nhắc nhở Hụi thay áo quần, bà lại phải lo cả việc tắm rửa cho Hụi nữa vì Hụi không còn biết tự tắm rửa nữa.

   Từ ngày Hụi bị tai nạn, Hằng cũng buồn bã lắm. Cái niềm thích thú chơi chim của Hằng hình như cũng biến mất luôn. Hằng không còn nhìn những đứa bạn cưng chim một cách thèm khát say sưa như ngày nào. Hằng không còn một chút ao ước nhỏ được làm chủ một con chim đẹp khôn ngoan. Hằng thấy sợ sợ sao sao ấy. Hằng cũng ít lang thang đi chơi với bạn bè như trước. Lâu lâu có cái kẹo, miếng bánh, Hằng lai đem sang cho Hụi và ngồi nói chuyện với Hụi. Nhưng gần như Hụi cũng chẳng biết Hằng là ai hoặc không quan tâm tới Hằng. Hằng đưa bánh kẹo thì Hụi cứ lặng lẽ cầm lấy mà ăn. Hằng nói chuyện thì Hụi cứ lặng lẽ nghe. Nếu Hằng hỏi gì thì Hụi lại "Ừ, ừ, phải rồi, không biết!". Chỉ có một lần mắt Hụi chợt sáng lên mà hỏi Hằng:

   -Hai con quạ tao cho mày biết bay chưa?

   Đó là câu hỏi có vẻ khôn ngoan duy nhất trở lại với Hụi làm cho mọi người vô cùng mừng rỡ. Những người nghe câu ấy đều xúm lại quanh Hụi lập tức. Nhưng đôi mắt Hụi liền trở lại thẫn thờ, lạc thần như trước. Các câu hỏi tiếp đó lại được Hụi đáp lại bằng lời đáp cố hữu "Ừ, ừ, phải rồi, không biết!".

   Chỉ còn may một điều là Hụi không khi nào gây phiền phức cho xóm giềng.

   Tình trạng này kéo dài mãi hơn bốn năm năm. Dần dần, ngoài người trong nhà, Hụi cũng nhớ mặt, nhớ tên được một vài người hay lui tới với gia đình Hụi. Khuôn mặt Hụi lúc này trông bạnh ra, nhợt nhạt ra và lúc nào cũng có vẻ như cười một mình. Cái nụ cười ngây ngây, ma ma trông đến dễ sợ. Mấy đứa con nít lạ trông thấy liền phải tránh đi hoặc bỏ chạy mất. Có người khuyên cha mẹ Hụi nên thử tập cho Hụi đi làm việc, có thể tránh bớt cho Hụi bị luống xương. Ông bà Hai nghe vậy thì biết vậy chứ cũng không tin tưởng, hi vọng gì.

   Một lần đang đào lỗ trồng chuối trong vườn nhà, ông Hai bi gẫy mất cái cán xẻng. Lúc ấy trong nhà không có ai để nhờ lấy giùm cái xẻng khác thay thế. Ông vừa vấn thuốc hút vừa gọi đại Hụi đem xẻng ra cho ông. Gọi là gọi đùa vậy thôi, nhưng không ngờ Hụi cầm cái xẻng ra cho ông thật. Khi ông làm thì Hụi đứng chăm chú nhìn. Làm một chốc, ông quay lại hỏi Hụi:

   -Con làm được không?

   -Ừ! Ừ! Được!

   Ông trao cái xẻng cho Hụi và đứng nhìn Hụi làm xem sao. Ông Hai ngạc nhiên thấy Hụi chịu làm và lại làm được. Thế là ngay buổi chiều ấy, hai cha con cùng đào lỗ trồng chuối. Qua một ngày làm việc, thấy Hụi không tỏ ra mệt nhọc mà có vẻ vui thích. Từ đó, làm công việc gì ông Hai cũng kêu Hụi đi theo. Đặc biệt là khi đi làm dù trời nắng hay mưa, Hụi vẫn không bao giờ chịu đội nón đội mũ. Càng đi làm, Hụi càng ăn được cơm, càng lớn con thêm, càng trở nên đen điu, giảm đi cái vẻ nhợt nhạt ma quái. Hụi làm việc gì cũng siêng, làm nhiệt tình, làm tới nơi tới chốn. Dĩ nhiên là Hụi chỉ biết tuân hành, cha chỉ đâu làm đó, không có sáng kiến.

   Điều may cho gia đình Hụi, khi Hụi biết hăng say trong công việc ruộng rẫy thì ông Hai mất. Bà Hai phải thay ông điều hành công việc làm ăn. Hụi có sức khỏe, chịu làm nên công việc trong nhà cũng chạy đều. Tuy thế, những khi rảnh rỗi, Hụi vẫn cứ tìm chỗ ngồi thừ ra như trước. Chỉ có chút tiến bộ là Hụi biết nói thêm được một số tiếng thông thường. Những ngày tết nhất, những người thân quen tới thăm cũng có người lì xì cho Hụi như một đứa trẻ. Ai lì xì Hụi cũng đưa tay nhận hết. Bà Hai cũng thỉnh thoảng đưa tiền cho Hụi bảo khi thèm chi cứ mua ăn. Hụi lấy tiền nhưng ít ai thấy Hụi tự mình ăn hàng bao giờ.

   Mấy năm sau Hùng đi lính. Hai cô em gái của Hụi, Mai và Hạnh, cũng lần lượt đi lấy chồng. Trong nhà chỉ còn vỏn vẹn hai mẹ con. Niềm an ủi lớn cho bà Hai là lúc này mỗi lần Hùng, Mai hay Hạnh về thăm, Hụi cũng biết tỏ ra mừng rỡ. Hụi biết nghe lời mẹ, lời anh và nghe lời cả hai em gái.

   Rồi Hùng xin với mẹ đi hỏi Hằng làm vợ. Hằng bấy giờ đang làm cô giáo. Hai gia đình vốn thân nhau, Hùng và Hằng cũng thương nhau thiệt tình nên mọi việc đều suôn sẻ. Với việc chấp thuận kết duyên với Hùng, Hằng còn mang ước nguyện được có cơ hội săn sóc giúp đỡ Hụi như với một người ruột thịt bị tật nguyền. Hằng biết rõ hơn ai hết, cái cảnh thân tàn ma dại của Hụi bây giờ, phần lớn là do sự mê say chơi chim của Hằng gây nên. Hằng phải tìm cách chuộc lại một ít tội lỗi.

   Năm sau, vào dịp nghỉ phép thường niên, Hùng tổ chức đám cưới tại nhà. Hụi bình thường rất biết nghe lời những người trong gia đình. Đêm trước ngày cưới, bà Hai, Hùng và hai em gái tề tựu đủ mặt tại nhà trong bữa cơm tối. Mọi người đều nhỏ nhẹ dặn dò Hụi ngày mai trong lúc rước dâu về, Hụi phải vào buồng mà ngồi chứ đừng ra ngoài có thể làm cho một số người phải sợ. Người nào cũng một hai lần dặn đi dặn lại. Hụi cứ gật đầu ừ, ừ. Đến sáng, bà Hai và Hùng lại kêu Hụi mà dặn lại lần nữa. Mai và Hạnh có nhiệm vụ canh và nhắc chừng Hụi vào giờ phút quan trọng ấy.

   *

   Đám rước dâu cũng khá long trọng. Khi quan viên khách khứa hai họ đã tề tựu ở nhà đàng trai, cô dâu chú rể sắp làm lễ trước bàn thờ tổ tiên, bất ngờ Hụi xuất hiện với bộ pijama mới toanh. Hụi đưa tay gạt mọi người tiến thẳng tới trước mặt cô dâu, nét mặt vừa man dại, vừa mừng rỡ:

   -Hi hi! Con Hằng! Mày đến ở nhà tao hả?

   Hai cô phụ dâu hoảng hốt thối lui mấy bước. Một số người bên họ nhà gái cũng giựt mình. Mai và Hạnh lật đật kéo anh mình vào buồng. May mắn là Hụi không kháng cự, ngoan ngoãn đi theo hai em. Hùng và Hằng thì điềm tĩnh như không có việc gì. Mọi người chỉ chưng hửng giây lát. Rốt cục mọi chuyện vẫn trôi qua êm đẹp.

   Khi khách đã ra về hết rồi, bà Hai lại cho dọn một mâm dành cho người trong nhà, vì trong khi bận rộn lo tiếp khách, có người vẫn ăn uống chưa được no. Lần này quây quần đủ mặt toàn bộ con cái dâu rể. Bà Hai một tay cầm tay Hụi, một tay chỉ vào Hằng mà nói:

   -Hụi này, con biết đây là ai không?

   -Biết! Con Hằng!

   -Con không được kêu là con Hằng nữa! Từ nay con phải kêu là chị Hằng! Đó là chị dâu của con, biết chưa?

   -Không! Tôi không kêu con Hằng bằng chị! Con Hằng nhỏ.

   -Chị Hằng nhỏ nhưng chị Hằng nay là vợ của anh Hùng con, con phải kêu bằng chị! Con thấy thằng Sanh đây lấy em Mai của con nên phải kêu con bằng anh. Thằng Hạc đây lấy em Hạnh của con nên cũng phải kêu con bằng anh. Vậy con phải kêu là chị Hằng mới đúng nghe chưa!

   -Không! Tôi không kêu con Hằng bằng chị! Thế tối nay con Hằng ngủ đâu?

   -Chị Hằng là vợ của anh Hùng con thì chị Hằng ngủ với anh Hùng con. Con đừng hỏi chuyện đó làm gì.

   Hằng nghe vậy cũng không lấy làm phật lòng. Hằng cũng chính thức gọi Hụi bằng danh mới kể từ đó: chú Hụi.

   Bà Hai phải kiên nhẫn giải thích nhiều lần với Hụi. Mãi hai ngày sau cái danh "chị Hằng" đối với Hụi mới được êm xuôi.

   Sau thời gian nghỉ phép, Hùng trở về đơn vị. Hằng cũng đi theo chồng vì Hằng đã xin thuyên chuyển được đến dạy ở một trường học gần nơi Hùng làm việc.

   *

   Đến giữa năm 1975 thì Hùng vào tù, Hằng bị đuổi việc. Bên nhà Hằng bấy giờ cũng chẳng còn ai. Hằng phải dẫn hai con, một trai một gái, về ở với bà nội. Bà Hai lúc ấy cũng đã già lắm rồi, nhưng bà vẫn phải tính toán việc nương rẫy vì Hụi chỉ có sức làm thôi chứ không hề biết chuyện nắng mưa giống má gì hết. Thấy Hằng về, bà Hai rất mừng. Bà đang lo nếu bà có mệnh hệ nào thì Hụi sẽ chỉ có thể làm lao nô cho người khác thôi. Bà biết Hằng rất thương người em chồng tật nguyền. Qua cách Hằng đối xử với Hụi bao nhiêu năm từ khi Hằng về làm dâu nhà bà đã tạo cho bà một sự tin tưởng lớn. Những lần về thăm bà, Hằng đã không ngần ngại giặt giúp bà những đồ dơ của bà cũng như của Hụi. Hằng cũng không hề đắn đo khi bỏ tiền ra sắm những bộ áo quần đáng giá cho bà, cho Hụi. Thấy Hụi ưng cái gì Hằng cũng tìm cách kiếm cho bằng được để Hụi vừa ý. Bà Hai không hề có một tà kiến về vai vế chị dâu ông chú mà chỉ nhìn thấy giữa Hằng và Hụi có một thứ tình thương như tình thương mẹ con hay tình thương chị cả em út vậy. Chính bà cũng rõ hơn ai hết, đứa con trai tật nguyền của bà bị một khuyết điểm quá lớn là dơ dáy, hôi hám mà chỉ có người mẹ hay một người rất nhân đạo, rất cao thượng mới chịu đựng nổi. Hụi không bao giờ tự mình tắm rửa được. Áo quần thì bà phải đưa đến tận tay và bảo thay Hụi mới chịu thay. Đó là điều làm bà mất ăn mất ngủ nhất. Một mai kia khi bà nằm xuống rồi thì tình trạng đó sẽ ra sao?

   *

   Từ cái nghề đứng bục giảng bài chuyển sang nghề nương rẫy là một vấn đề lớn đối với Hằng. Đôi vai mềm yếu ngày nào chỉ mang cái ba lô đi trại hè đã thấy khó chịu, giờ phải gánh sắn, gánh khoai ngày này qua ngày khác. Cái lưng thon khi ngồi dựa ghế, khi mỏi duỗi thẳng trên giường lót nệm, giờ ngày nào cũng uốn gập lại muốn gẫy để nhổ mạ, cấy lúa, lượm cỏ. Ngày nào thấy con trùn bò dưới đất cũng vội tránh, bây giờ những con đỉa lớn như ngón chân cái bám đầy chân mà hút máu chảy ròng ròng cũng phải ráng mà chịu...

   Bước chuyển tiếp này tuy khó khăn nhưng nó còn mang ít nhiều tính chất tự do. Khi mệt lắm mình có thể nghỉ một ngày hai ngày. Khi cần việc khác, mình còn có thể tạm hoãn việc đang làm lại. Khi đang làm việc buồn ngủ quá có thể tìm lùm cây làm một giấc. Mình làm việc mình không có ai thúc đẩy, dòm ngó.

   Tới đợt chuyển tiếp từ cách làm ăn cá thể sang lề lối làm ăn tập thể là giai đoạn khốn đốn cực điểm của đời Hằng. Ruộng rẫy chính quyền gom hết về một mối rồi phân chia ra cho từng đội canh tác. Mỗi người mỗi việc đều do cán bộ cắt đặt. Ba giờ sáng đã nghe kẻng báo thức vang rền. Năm giờ sáng đã tập họp ra đồng ra rẫy. Buổi tối thì họp bình bầu rút ưu, khuyết điểm, có khi kéo dài tới 12 giờ khuya. Cả đời Hằng chưa biết đạp nước lên ruộng bao giờ, một lần được phân công làm việc ấy cũng phải gắng lòi trĩ ra mà đạp. Cũng có lần được cử đi lấy phân Bắc (phân người), Hằng phải nín thở, nghiến răng mà xúc. Nhằm thời kỳ kinh nguyệt, gặp mùa cấy Hằng cũng phải lội ruộng sâu để cấy. Làm lụng vất vả đến thế nhưng sau khi nộp lương thực cho huyện, tỉnh, trích lại cho  quĩ bồi dưỡng cán bộ, quĩ khen thưởng thành phần xuất sắc, cuối vụ chia cho tổ viên đổ đồng mỗi ngày Hằng lãnh được không tới một lon rưỡi gạo và một ít hoa mầu phụ. Chú Hụi cũng không khá hơn được, dù chú là đàn ông có sức nhưng người ta cứ lợi dụng sự khờ khạo của chú để chèn ép, lại còn phê bình chú là lười nhác nữa. Riêng Hằng bao giờ cũng phải cố gắng hết mình trong công việc, chỉ vì Hằng sợ bị phê bình sẽ ảnh hưởng đến Hùng, người chồng đang ở trong tù.

   Một lần tình cờ Hằng được cắt việc nhổ mạ gần đám đất người ta cắt cho chú Hụi cuốc. Ông thôn trưởng thân hành dắt Hụi đến tận đám đất và dặn:

   -Hôm nay chú Hụi phải cuốc cho xong đám đất này nghe chưa!

   Hụi ừ và lập tức cắm cúi cuốc. Hụi cuốc ráo riết. Khi khát nước chú chỉ ngừng tay uống mấy ngụm rồi lại tiếp tục công việc. Thấy tội nghiệp, Hằng gọi vói:

   -Này chú Hụi, nghỉ đi một chốc rồi cuốc tiếp chứ chú làm như vậy đuối sức mà chết luôn đó!

   -Không, ông thôn dặn đừng nghỉ!

   -Chú cứ nghỉ một chút đi, tôi nói với ông thôn cho.

   Lần này thì chú Hụi nghe Hằng và ngồi xuống nghỉ. Nhưng chú mới ngồi chừng mười phút thì ông thôn lại đến, ông nói lớn:

   -Làm gì mà cứ nghỉ hoài như vậy? Này chú Hụi, chú cuốc cạn quá!

   Rồi ông cầm cuốc lên cuốc lia lịa liên tiếp cả mươi lát:

   -Phải cuốc như tôi thế này này! Chú cuốc chậm rì và cạn quá lấy gì mà ăn!

   Sau đó ông trao cuốc cho chú Hụi, thở hồng hộc mà đi nơi khác. Mấy lát cuốc của ông thôn thật có tác dụng. Ông đi rồi nhưng chú Hụi cứ cuốc thật nhanh, thật mạnh và cuốc mãi miết. Hình như chú sợ ông thôn nhìn thấy nếu chú ngừng tay. Bây giờ Hằng mới hiểu vì sao từ ngày vô làm đội, chú Hụi về nhà ăn xong là ngủ liền cho đến khi bị đánh thức dậy đi làm ngày khác. Người Hụi bây giờ đã xơ xác đi rất nhiều. Hằng không cầm được lòng lại gọi:

   -Chú Hụi ơi, ông thôn đi khỏi rồi, cứ nghỉ uống nước đi chốc nữa cuốc tiếp. Chứ cuốc gắng lắm đuối sức mà chết bây giờ.

   -Không! Không cuốc nhiều ông thôn không cho gạo.

   Rồi Hụi lại cắm đầu cuốc. Tới gần tối thì chú Hụi cuốc xong miếng đất.

   Hôm sau Hằng tiếp tục nhổ mạ ở thửa mạ cũ. Buổi trưa thì toán thống kê đến kiểm tra thửa đất Hụi cuốc hôm qua. Hằng nghe một người nói:

   -Cuốc như vậy là đạt lắm! Phần của ông thôn đấy, tính cho ông ấy ba công.

   Hằng nghe hơi ngạc nhiên nhưng không dám thắc mắc với ai hết. Nếu cứ làm như cái đà này thì chú Hụi chết sớm thật. Gắng đem sức ra làm cho người khác ăn mới đau lòng chứ. Ngặt một cái là Hằng có nói chú cũng nhất định không chịu nghe. Hằng cố nặn óc suy nghĩ để tìm cho ra một lối thoát. Và lần đầu tiên Hằng nghĩ tới chuyện đi vùng kinh tế mới...

   *

   Nhân ngày hợp tác xã tổ chức buổi liên hoan ăn mừng thành tích làm ăn tập thể trong năm, các đội đều được nghỉ đi làm. Có chút thì giờ rảnh, Hằng dẫn hai con và chú Hụi đi hớt tóc. Khi đi ngang qua sân hợp tác xã, Hằng thấy ông thôn và mấy ông đội trưởng vừa ăn tiệc xong còn đứng tụm lại hút thuốc tán dóc trước khi về. Hằng gật đầu chào họ. Mấy người ấy cũng gật đầu chào lại Hằng. Bất đồ Hằng thấy ông thôn co chân một cái và một gói gì đó trong ống quần lọt ra. Mấy viên chức đứng quanh đấy đều nhìn lại và cùng cười rầm lên. Ông thôn có vẻ bối rối chốc lát rồi ông cũng cười vẫy tay về phía Hằng:

   -Hụi ơi, may quá, tao định đem cái này về cho mày thì lại gặp mày ở đây! Này, cầm lấy mà ăn đi!

   Ông lượm cái gói đem đưa cho Hụi. Hụi mở gói ra thì thấy mấy miếng chả trứng chiên mỡ láng lườm trông phát thèm cùng với một bịch nylon đựng lòng heo. Hụi sung sướng vừa bước vừa nhai trước sự ngơ ngác của hai đứa nhỏ. Hằng toan nói với Hụi về nhà rồi hãy ăn nhưng rồi lại thôi. Hằng quay lại nhìn ông thôn và nói:

   -Cám ơn ông thôn nhiều lắm!

   Hằng nghe một người nào đó nói:

   -Hôm nay sao ông thôn thương thằng Hụi dữ vậy không biết!

   Vài hôm sau ở các đội đều nghe cái chuyện tếu bà nấu bếp lén đưa thêm cho ông thôn một gói quà. Ông thôn bỏ quà vào túi quần. Không ngờ gói quà nặng quá trong khi cái túi quần vải đã mục rách làm nó lọt ra ống quần!

*

   Thấy tình trạng khốn khổ của đứa con tật nguyền trong cuộc sống hiện tại, bà Hai đã quyết định đi vùng kinh tế mới.

   Tới xứ sở mới mẻ này, mẹ con bà Hai, nhờ ơn trên cũng kiếm được một mẫu rẫy. Với sự cố gắng làm ăn của mọi người, lại gặp nơi chính quyền địa phương đang nới tay để khuyến khích dân đến làm ăn, gia đình Hằng cũng sống thoải mái hơn hẳn khi làm đội ở quê nhà.

   Rồi bà Hai mỗi ngày một yếu, dần dần bà chỉ còn có thể lo việc cơm nước, giặt rửa trong nhà. Hùng thì không biết ngày nào mới trở về được. Công việc rẫy bái bấy giờ hoàn toàn do một tay Hằng tính toán. Cũng may đất mới đãi người, Hằng cũng có dư ra chút đỉnh để lo việc thăm nuôi chồng. Chú Hụi nhờ hợp với bắp, đậu ăn tha hồ, người cũng khỏe ra, có sức làm việc dẻo dai trở lại. Hằng siêng năng, cố gắng, chú Hụi cũng siêng năng cố gắng.

   Một hôm trời mưa lớn không đi làm được, Hụi ở nhà lục lọi soạn hết cái bao đựng đồ đạc của mình, rồi đến chỗ Hằng đang ngồi bào bắp:

   -Chị Hằng, cho chị hết đây này!

   Hụi dúi vào tay Hằng một nắm bạc. Hằng kinh ngạc mở ra coi thử. Tiền thời Bảo Đại, thời Ngô Đình Diệm, thời đệ nhị Cộng Hòa đều có nhưng chỉ có vài đồng tiền đang lưu hành. Thì ra bao nhiêu năm nay, những tiền được lì xì chú Hụi vẫn dồn cất lại tất cả. Hằng nhìn nắm tiền mà xúc động muốn rơi nước mắt. Số tiền còn dùng được chỉ có thể mua mấy cái kẹo.

   -Cám ơn chú Hụi, nhưng tại sao chú lại cho tôi?

   -Tôi...tôi ... muốn cho chị...

   Hằng đem nắm tiền tới nói chuyện cho bà Hai nghe. Hai mẹ con cùng cười xót xa.

   Mấy ngày sau chú Hụi bỗng trở chứng. Nhiều lần đang làm cỏ chú bỗng chống cuốc đứng nghỉ với vẻ thẫn thờ cả giờ. Hoặc lúc đang trỉa giống gấp cho kịp vụ, chú cũng bỏ ngang tìm dựa gốc cây ngồi nghỉ. Hằng rất lo lắng vì biến chứng lạ lùng đó. Có thể là Hụi sắp bị bệnh hoạn gì đây. Nếu Hụi bị bệnh thật thì quả là khốn nạn cho Hằng. Rẫy cả mẫu như thế này e cũng phải bỏ hoang bớt. Tình trạng đó kéo dài cả mươi ngày. Nhưng Hằng vẫn để mặc Hụi, không nói đến. Hằng cứ cặm cụi lo công việc một cách nôn nóng. Thấy Hằng không nói gì, Hụi càng làm tới, tỏ ra lười hơn.

   Sau cùng, một lần quá nóng lòng vì công việc, Hằng gọi:

   -Này chú Hụi, gắng ra làm thêm một chốc nữa rồi về nghỉ sớm!

   Hụi xách cuốc đi lại gần Hằng làm được vài lát rồi ngừng lại nói với Hằng:

   -Chị cởi quần cho tôi ngó một chút rồi tôi làm!

   Lời nói bất ngờ của Hụi làm Hằng lặng người. Nàng sững sờ chốc lát mới lấy lại được bình tĩnh. Cố tạo ra một vẻ vừa nghiêm nghị vừa giận dữ, Hằng nói với Hụi:

   -Chú nói bậy tôi sẽ về mách với mẹ. Hôm nay chú mệt chú về nghỉ trước đi!

   Hụi tỏ vẻ sợ sệt, im thin thít, cắm đầu cắm cổ làm cho đến tối.

   Đêm đó về Hằng không ngủ được. Thật sự Hằng không giận Hụi một chút nào. Hằng chỉ nghĩ mà thương cho Hụi. Dù sao Hụi cũng là một người đàn ông! Nếu như không có Hằng dính líu tới cuộc đời Hụi từ thuở nhỏ, Hụi đâu đến nỗi ra thân thế như bây giờ! Có thể đó là do định mệnh, nhưng định mệnh sao quá quái ác, mượn Hằng làm tác nhân! Và nếu không phải là định mệnh thì sao? Trong làng trong xóm những người cùng tuổi với Hụi cũng nhiều. Ngoài một số rủi ro hi sinh trong chiến tranh, số còn lại đều có một mái ấm gia đình tương đối hạnh phúc. Niềm hạnh phúc lớn của con người là cảnh vợ chồng vui vẻ, mẹ cha, con cái sum vầy. Cao điểm là khi có những đụng chạm rắc rối ngoài đời, ấm ức trong lòng khó tỏ bày cùng ai, về nhà vợ

chồng cùng nhau chia sẻ, rồi tìm hơi ấm của nhau...

   Nghĩ tới Hụi, Hằng lại liên tưởng tới đứa trai của mình, thằng Thảo. Thảo đang học lớp năm và là học sinh xuất sắc nhất trường. Môn nào nó cũng giỏi một cách lạ lùng. Kinh nghiệm qua bao năm làm nhà giáo, Hằng tin chắc con nàng cũng là một trường hợp khác thường. Cái chấn động tâm trí do Hụi gieo nơi Hằng ban chiều đã khơi lên cho Hằng một điều mà lâu nay Hằng không để ý đến: Hụi ngày xưa sao giống thằng Thảo bây giờ như đúc vậy? Cặp mắt! Nụ cười! Cái trí thông minh! Hằng càng thêm lo sợ. “Chữ tài liền với chữ tai một vần”! Lo sợ cho con, cho mình và càng thương cho thân phận của Hụi. Gần bốn chục tuổi, Hụi vẫn chưa biết gì về đàn bà! Hằng đang bị ám ảnh bởi chữ tài chữ mệnh. “Thấy người nằm đó biết sau thế nào”!

Những ý nghĩ đó cứ hành hạ Hằng cho đến khi bà Hai thức dậy nấu cơm...

   Những ngày kế tiếp Hụi trở lại làm việc chăm chỉ bình thường. Tuy vậy, Hằng bấy giờ cũng luôn luôn cảnh giác để đối phó với sự bất trắc. Hằng rất thông cảm Hụi, hiểu Hụi, thương Hụi như lòng người mẹ đối với đứa con. Hằng cũng nghĩ rất nhiều về mối hạnh phúc gia đình. Hằng tin chắc mình không bao giờ phạm lầm lỗi được. Nhưng Hằng rất lo sợ một sự ứng xử vụng về của mình có thể làm cho mình mắc thêm một nỗi ân hận hoặc có thể gây nên những mối hiểu lầm tệ hại.

   Sự cảnh giác đề phòng của Hằng không thừa. Một hôm hai chị em đang bày cơm ra sắp ăn trưa dưới bóng cây thì Hụi lại nói:

   -Chị Hằng, chị cởi quần cho tôi ngó một chút đi! Một chút thôi mà!

   Hằng đứng phắt dậy, làm ra vẻ vô cùng giận dữ:

   -Chú ăn cơm cho hết đi rồi về! Từ  nay chú đừng có đi làm với tôi nữa!

   Nói xong Hằng vùng vằng xách cuốc đi làm chỗ khác. Hụi thấy thế cũng không ăn. Chú ngồi ôm đầu khóc thút thít. Sau khi khóc cho đã, chú lại vác cuốc đi làm. Hằng thấy tội nghiệp chú lắm nhưng vẫn cố làm nghiêm, không lên tiếng, làm việc cho hết buổi chiều. Phần cơm của hai người hôm đó chồn chuột và kiến ruồi hưởng hết. Tối đến, Hằng vẫn cố giữ một vẻ nặng nề giả tạo, vác cuốc ra về. Hụi cũng lẳng lặng về theo.

   Hằng lại trải qua một đêm thức trắng khác. Không biết chuyện gì sẽ đến nữa đây? Nỗi lo sợ của Hằng càng tăng. Khi sự thèm khát của con người bị dồn nén đến cùng cực thì hậu quả thật khó lường. Hằng định nói chuyện với bà Hai nhưng dật dờ chưa dám. Hằng sợ bà Hai lẩm cẩm lộ chuyện ra thiên hạ suy đoán lung tung lại càng thêm phiền. Hằng phập phồng lo sợ từng ngày, từng giờ. Mỗi buổi chiều Hằng phải lo về sớm hơn trước kia nhiều, dù nôn việc cũng không dám làm gắng nữa.

   Rồi một chiều kia, giữa nửa chiều, Hụi lại trở chứng. Hằng làm mặt giận thì Hụi lại gục đầu khóc thảm thiết. Muốn cho Hụi sợ mà chừa, Hằng vùng vằng làm như không chịu được nữa, bỏ về. Cứ tình trạng này thì khó yên lắm rồi. Thế nào rồi cũng xảy chuyện không hay. Những ý nghĩ quay cuồng rối bù đầu óc khiến Hằng về đến trước nhà mình mà vẫn chưa hay...

   -Ba về rồi má ơi!

   Tiếng kêu sung sướng của hai đứa trẻ làm Hằng như vừa tỉnh giấc mộng. Người đàn ông gầy nhom đang tươi cười tiến lại phía Hằng. Trong cơn xúc động, Hằng phóng tới ôm Hùng khóc nức nở. Khi buông Hùng ra, Hằng chợt thấy Hụi còn đang vác cuốc đứng nhìn hai người ngây dại sững sờ... Hùng vội chạy lại nắm tay Hụi cùng đi vào nhà.

   *

   Sự trở về của Hùng như một phép mầu đã xóa sạch trơn những nỗi lo sợ của Hằng. Không khí gia đình trở nên đầm ấm hơn nhiều. Trong những giờ phút tràn trề hạnh phúc môi kề má áp bên người chồng sau một thời xa vắng, nhiều lúc Hằng chợt chạnh lòng nghĩ tới Hụi. Hụi cũng là một người đàn ông. Hụi cũng có tình cảm, cũng có ước mơ, cũng có những thèm khát như mọi người. Thế mà đến giờ này, gần bốn mươi tuổi, Hụi vẫn chưa biết đàn bà là thế nào. Đêm đêm Hụi vẫn nằm chèo queo một mình! Nếu không gặp Hằng thì đời Hụi đâu đến nỗi! Với sự thông minh tót chúng, đời Hụi sẽ huy hoàng biết mấy nếu không có tai nạn xảy ra! Những ý nghĩ ấy cứ dày vò Hằng mãi. Một hôm Hằng thủ thỉ:

   -Này anh, anh có biết nhà chứa chỗ nào không?

   Hùng ngạc nhiên nhõm người ngồi dậy.

   -Em hỏi làm gì vậy? Không lẽ em nghi anh lui tới những nơi ấy à?

   -Không đâu. Anh bình tĩnh em nói chuyện này cho anh nghe...

   *

   Chiều kia Hùng đã tự tay tắm rửa thật kỹ cho Hụi. Sáng hôm sau Hùng bảo Hụi mặc bộ đồ mới nhất để đi chơi phố huyện. Hùng đã chuẩn bị sẵn liều thuốc phòng bệnh cho Hụi, dắt Hụi vào một tiệm ăn khá sang cho Hụi ăn uống thỏa thích trước khi nếm mùi đời. Hai người bạn của Hùng đi theo cứ khục khặc cười, tinh nghịch gợi ý với Hụi. Hụi nghe lời họ có vẻ thích thú nhưng không giấu nổi vẻ bẽn lẽn.

   *

   Hụi bước về nhà với vẻ hả hê lắm. Hằng thấy vậy mỉm cười hỏi:

   -Chú Hụi bữa nay đi phố làm gì thế? Có vui không?

   Hụi hân hoan trả lời:

   -Ừ, ừ, Vui lắm! Vui lắm! Thích lắm!

   Hùng bước vô theo sau nghe Hụi nói cũng cười thích thú:

   -Nắng lâu ngày gặp mưa mà! Tuần sau đi nữa nghe chú Hụi! Chịu không?

   -Ừ, ừ, thiệt hả! Tuần sau anh dắt tôi đi tiếp nữa nghe! Tôi chịu!

   -Vậy thì từ giờ này chú Hụi phải tự tắm rửa đi đó!

   Hụi đi về chỗ mình để nghỉ. Hùng cũng vô phòng riêng thay đồ. Hằng bước vô theo tủm tỉm cười hỏi chồng:

   -Kết quả mỹ mãn anh há! Chắc chú ấy... thích lắm nhỉ! Anh có cẩn thận lo cho chú ấy không? Không chừng rước bệnh về thì khốn!

   -Yên trí. Chú ấy có được người chị dâu như em không lẽ lại có ông anh tồi vô trách nhiệm? Thay mặt cho chú Hụi, anh thành thật cám ơn em vạn bội. Em là người đàn bà cao thượng nhất đời!

   Hằng nhìn chồng âu yếm:

   -Anh biết không! Đó là số tiền em dành dụm trù sắm cho anh bộ tông đơ để đi hớt tóc dạo đỡ nhọc cái thân. Dùng cho ông em rồi thì ông anh ráng chịu thôi. Bây giờ anh lại hứa đùa tuần sau đi nữa, lỡ chú ấy đòi đi thiệt thì làm sao?

   -Ồ, nếu em mà thấy được cái vẻ hả hê, sung sướng của chú ấy sau khi lâm cuộc, có cho thêm nữa cũng không tiếc... Thôi, giờ tới phiên mình!

   Cả hai vợ chồng cùng cười vui vẻ.

   *

   Ngay sáng hôm sau ngày đi phố huyện về, Hụi bị nhuốm bệnh sốt rét. Trong đời Hụi, gần như chưa hề một lần đau ốm đáng kể. Cả nhà đều tưởng chỉ sốt qua loa như mọi lần, không ngờ đến buổi tối thì cơn sốt tăng kịch liệt. Vợ chồng Hùng đưa Hụi ra trạm xá nhưng nơi này thuốc men thiếu, phải cấp giấy chuyển về bệnh viện huyện.

   Số phận hẩm hiu, Hụi được đưa tới bệnh viện, nhưng vì Hùng không chuẩn bị đủ tiền đóng viện phí nên bệnh viện cương quyết không cho nhập. Trong khi đang dùng dằng chờ đợi chạy tiền qua cửa thủ tục thì Hụi mất.

   Hụi ra đi quá bất ngờ. Hằng đã khóc cho người em chồng còn thống thiết hơn cả bà Hai - mẹ của người chết.

*

   Chuyện mồ mả xong xuôi, Hùng tâm sự với Hằng:

   -Chú ấy mất coi như là số mệnh đi. Dù sao mình cũng có chút an ủi là trong những ngày cuối đời của chú ấy, mình đã cho chú ấy thỏa mãn một vài ước muốn.

   Hằng buồn bã lắc đầu:

   -Không, chính vì cái đó mà em ân hận thêm. Biết đâu chính vì việc đó làm cho bệnh chú ấy phát ra? Cũng có thể, vợ chồng mình đã tiếp tay hủy hoại cái đồng trinh của chú ấy, khiến chú ấy không được lên thiên đường!

 Ngô Viết Trọng

For Human Rights

Ten years in prison ...

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, ...

Blogger Mẹ Nấm

Please help ...

FORMOSA - Dân biểu tình CS đánh dân dã man

Dân biểu tình công an đánh đập dân dã man

GIẢI TRÍ - LƯỢM LẶT

MỘT KIỂU CHÀO QUEN ...

Nửa thế kỷ rồi vẫn ...

Trình độ văn hóa ...

Đỉnh cao trí tuệ của ...

KHÔNG ĐƯỢC ĐỤNG ...

Đó chính là lời ...

Cô Giáo Dạy Anh Ngữ ...

Nguyễn Xuân Phúc  ...