Thưa Tổng Thống, Tháng 5 này, Tổng Thống sẽ đến thăm Việt Nam lần đầu tiên. Nhân dân Việt Nam trông đợi cuộc viếng thăm của Tổng Thống... Chân thành xin Tổng Thống sử dụng chuyến đi này để nói lên cho thân phận hằng nghìn người Việt Nam, nam phụ lão ấu, nông dân và công nhân, trí thức nhân sĩ, nhà báo, nhà bloggers và tín đồ các tôn giáo đang mỏi mòn trong nhà tù, hay bị quản chế, bị bạo hành hay sách nhiễu, vì dấn thân đòi hỏi tự do tôn giáo, dân chủ và tôn trọng nhân quyền.

 HT.ThichQuang.Do

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN TĂNG THỐNG

90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP Saigon


Phật lịch 2560

Số. 20/TT/VTT

Thư Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ
gửi Tổng Thống Hoa Kỳ Barack H. Obama

bản Việt dịch



Kính gửi Tổng Thống Barak H. Obama,
Tổng Thống Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ
Toà Bạch Ốc
Washington D.C 20500
Hoa Kỳ

Saigon, ngày 30 tháng 4 năm 2016


Thưa Tổng Thống,

Tháng 5 này, Tổng Thống sẽ đến thăm Việt Nam lần đầu tiên. Nhân dân Việt Nam trông đợi cuộc viếng thăm của Tổng Thống, và mừng vui đón chào Tổng Thống trên mảnh đất thương yêu của chúng tôi.

Trước hết, tôi muốn gửi lời cảm tạ, do bản thân tôi có món nợ tri ân với Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ. Năm 1998, Ngoại trưởng Madeleine Albright viếng thăm Việt Nam lần đầu tiên. Thời ấy tôi bị giam tại nhà tù quái ác Ba Sao gần Hà Nội. “Tội” của tôi là đã dẫn đầu phái đoàn cứu trợ các nạn nhân bão lụt ở đồng bằng Sông Cửu Long. Trong chuyến viếng thăm này, Ngoại trưởng Albright lên tiếng tại Hà Nội yêu cầu trả tự do cho ba tù nhân chính trị — Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế và tôi. Liền sau đó, cả ba chúng tôi được trả tự do trong một kỳ ân xá. Nếu không có lời kêu gọi của Ngoại trưởng Albright và sự can thiệp của Hoa Kỳ, chúng tôi sẽ phải mòn mỏi trong tù không biết bao nhiêu năm nữa.

Hôm nay, tôi vẫn còn bị quản chế, dưới sự theo dõi thường trực của công an, và bị mất hết mọi quyền công dân. Nhưng thư này tôi không viết để xin Tổng Thống can thiệp trả tự do cho bản thân tôi. Quan trọng hơn, tôi chân thành xin Tổng Thống sử dụng chuyến đi này để nói lên cho thân phận hằng nghìn người Việt Nam, nam phụ lão ấu, nông dân và công nhân, trí thức nhân sĩ, nhà báo, nhà bloggers và tín đồ các tôn giáo đang mỏi mòn trong nhà tù, hay bị quản chế, bị bạo hành hay sách nhiễu, vì dấn thân đòi hỏi tự do tôn giáo, dân chủ và tôn trọng nhân quyền.

Những năm gần đây, Việt Nam mở cửa kinh tế và trở thành một diễn viên ngày càng tác động trong vùng Á châu Thái Bình dương cũng như trên sân khấu toàn cầu. Thế nhưng chính quyền chẳng có tí nỗ lực nào trong việc mở cửa chính trị, hay xây dựng những thiết chế cần thiết để bảo vệ các quyền của người công dân. Bốn mươi mốt năm sau chiến tranh chấm dứt, người dân Việt chúng tôi vẫn không hề có tự do báo chí, không hề có các thành phần đối lập, không hề có xã hội dân sự. Việt Nam là quốc gia trẻ, thế hệ trẻ năng động của nước tôi sử dụng truyền thông xã hội và Internet để trao đổi, học hỏi các ý tưởng mới. Thế nhưng sự khao khát kết nối toàn cầu đã đưa họ vào nhà tù, hay bị kết án theo những điều luật lạc hậu thời Chiến tranh lạnh như “tuyên truyền chống phá Nhà nước”, “phá hoại tình đoàn kết quốc gia”, hay “lợi dụng tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước”. Kinh tế hoá toàn cầu dẫn tới những thách thức mới cho giới công nhân, đông đảo giới này sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt không xứng với đồng lương. Họ chẳng có Công đoàn tự do nói lên những nỗi bất bình hay bảo vệ quyền lợi người công nhân.

Chuyến đi của Tổng Thống đang sát lại gần, thì nhân quyền tại Việt Nam càng bị đàn áp và gia tăng. Bao là lời hứa hẹn tại Đại hội Đảng lần thứ XII hồi tháng giêng đã bay mất, và giới lãnh đạo thuộc phe cứng rắn nắm hết quyền bính. Ông cựu Bộ trưởng Công an nay lên làm Chủ tịch Nước, khí hậu đàn áp được thấy rõ rành rành. Tháng 3 đầu năm nay, trong thời gian 2 tuần lễ, bảy nhà hoạt động nhân quyền bị kết án tổng cộng 22 năm tù, chỉ vì họ hành xử chính đáng quyền tự do ngôn luận và hội họp. Những điều luật cấm đoán mới được thông qua, như Luật Báo chí sửa đổi, Luật Tiếp cận Thông tin, Thông tư số 13 về biểu tình trước toà án, và Luật Hội, Luật Tôn giáo sẽ được Quốc hội thông qua trong năm nay. Các Luật mới này đều trái ngược với nghĩa vụ Việt Nam trong tư cách thành viên quốc gia đối với Công ước Quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị của LHQ.

Thưa Tổng Thống,

Nhân dân Việt Nam chào đón sự tăng cường quan hệ giữa hai nước Hoa Kỳ và Việt Nam, chúng tôi tin rằng điều này sẽ giúp cho chính quyền Việt Nam bước lên đường cải cách chính trị. Đồng thời, chúng tôi vững tin rằng mối quan hệ này chỉ có thể duy trì khi được thiết lập trên nền tảng hỗ tương tôn trọng dân chủ, tự do và nhân quyền đã được toàn thế giới công nhận.

Một trong những quyền này — mẹ đẻ của mọi nhân quyền — là quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng. Việt Nam là chiếc nôi của nhiều tôn giáo khác biệt, nhưng đa số nhân dân theo Phật giáo. Trên 2000 năm qua, giáo lý bao dung và từ bi của đức Phật đã thấm đẫm vào văn hoá và bản sắc người dân, gợi hứng cho tinh thần yêu chuộng tự do, công bình xã hội, và tự chủ bàng bạc cho đến ngày hôm nay. Chính nền văn hoá tự do và tinh thần tự chủ quốc gia này mà nhà cầm quyền Việt Nam tìm hết cách dập tắt và đàn áp.

Trong bài diễn văn đọc tại Cuba tháng Ba vừa qua, Tổng Thống nói rằng : “Tôi tin vào dân chủ — là điều giúp cho người công dân được tự do nói lên ý kiến họ mà chẳng cần sợ hãi, được lập hội, được phê phán chính quyền họ, và được biểu tình ôn hoà ; đó là nền pháp quyền vắng bóng các cuộc bắt bớ tuỳ tiện những ai hành xử các quyền của họ. Tôi tin rằng mọi người đều có tự do thực hiện đức tin của mình một cách hoà ái và công khai. Và, đúng như vậy, tôi tin vào lá phiếu để chọn lựa người cầm quyền qua các cuộc bầu cử tự do và dân chủ”.

Nhân dân Việt Nam chúng tôi chia sẻ niềm tin của Tổng Thống, và chúng tôi tiếp tục cuộc vận động ôn hoà để thực hiện các điều này dù phải trả với bất cứ giá nào. Xin Tổng Thống hãy cùng đứng bên chúng tôi, và cất tiếng cho nhân quyền trong cuộc viếng thăm Việt Nam sắp tới. Làm như thế, Tổng Thống tạo nên cơ hội lịch sử, mà chúng tôi sẽ ghi nhớ như sự lật trang cho phong trào tự do và dân chủ tại Việt Nam.

Với lòng trân trọng kính cẩn
(ấn ký)
Sa Môn Thích Quảng Độ
Đệ Ngũ Tăng Thống
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất

__________________________________________________________________

http://www.queme.net/eng/docs_detail.php?numb=2661

Letter from UBCV Patriarch Thích Quảng Độ to President Obama on the eve of his visit to Vietnam.

2016-04-30 | Thích Quảng Độ | UBCV

 

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN TĂNG THỐNG

 
   

90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP Saigon


Buddhist Era 2560

Ref. 20 /TT/VTT

The Honorable Barack H. Obama,

President of the United States of America,

The White House,

Washington D.C. 20500

Saigon, 30th April 2016

Dear President Obama,

In May 2016, you will make your very first visit to Vietnam. The Vietnamese people look forward to your visit, and are delighted to welcome you to this land we love so much.

First of all, I wish to convey my thanks, for I have a personal debt of gratitude to the United States. In 1998, when US Secretary of State Madeleine Albright made her first visit to Vietnam, I was incarcerated in the notorious Ba Sao prison near Hanoi. My “crime” was leading a relief mission to rescue flood victims in the Mekong delta. During her trip, Secretary Albright called for the release of three political prisoners - Doan Viet Hoat, Nguyen Dan Que and me. Soon afterwards, all three of us were released in a government amnesty. Without Secretary Albright’s appeal and the intervention of the United States, we would have languished in jail for many more long years.

Today, I am still under house arrest, under constant Police surveillance and deprived of citizenship rights. But I am not writing to ask you to win my freedom. More important, I sincerely urge you to use your trip to speak out for the thousands of Vietnamese, young and old, men and women, farmers and workers, academics, journalists, bloggers and followers of all religious denominations who are suffering imprisonment, house arrest, assaults and harassments because of their engagement for religious freedom, democracy and the respect of human rights.

In recent years, Vietnam has opened its economy and become an increasingly active player in the Asia-Pacific region and on the global stage. But the government has made no attempt to open the political system, nor establish the institutions necessary to safeguard its citizens’ rights. Forty-one years after the end of the Vietnam War, we still have no free press, no democratic opposition parties and no independent civil society. Vietnam is a young country, and our dynamic young generation is using social media and the Internet to intercommunicate and learn new ideas. Yet this thirst for connectivity has led many into prison, condemned under archaic laws couched in Cold War rhetoric such as “spreading anti-State propaganda”, undermining national solidarity” or“abusing democratic freedoms to threaten the interests of the state”. Economic globalization has brought new challenges for our workers, many of whom endure sweatshop conditions and inadequate pay, yet have no free trade unions to voice their grievances and defend their rights.

As your visit approaches, human rights abuses are escalating in Vietnam. Promises of reform at the Communist Party’s XII Congress in January were not upheld, and a hard-line leadership has now taken the helm. The former Minister of Public Security is now the President, and the climate of repression is palpable. In March 2016, in the space of just two weeks, seven human rights activists were sentenced to a total of 22 years in prison simply for the legitimate exercise of their right to freedom of expression and assembly. New restrictive legislation has been adopted, such as the amended Press Law, the Law on Access to Information and Circular 13 on demonstrations outside court buildings, and a Law on Associations and a Law on Belief and Religion will come before the National Assembly this year, both of which are inconsistent with Vietnam’s obligations as a state party to the UN Covenant on Civil and Political Rights.

Mr. President,

Vietnamese people welcome the strengthened relationship between the United States and Vietnam, and we believe it will help put our government on the path to reform. At the same time, we are convinced that this relationship is only sustainable if it is founded on the mutual respect of democratic freedoms and internationally-recognised human rights.

One of these rights – indeed the mother of all human rights – is the right to freedom of religion or belief. Vietnam is home to a wide diversity of religions, but it is in majority a Buddhist country. Over the past 2,000 years, Lord Buddha’s teachings of tolerance and compassion have shaped the culture and identity of the Vietnamese people, and inspired them with a spirit of liberty, social justice and independence that characterises them today. It is precisely this culture of freedom and independence that the Vietnamese government is determined to stifle and suppress.

In your speech to the people of Cuba in March 2016, you said: “I believe in democracy – that citizens should be free to speak their mind without fear, to organize, to criticize their government, and to protest peacefully; that the rule of law should not include arbitrary detentions of people who exercise those rights. I believe that every person should have the freedom to practice their faith peacefully and publicly. And, yes, I believe voters should be able to choose their governments in free and democratic elections”.

We Vietnamese share these beliefs, and we will continue our peaceful struggle to realise them, whatever price we must pay. I urge you to stand by us, and speak out for human rights in your visit to Vietnam. By so doing, you will make this a truly historic occasion, one we will remember as a turning point in the movement for freedom and democracy in Vietnam.

Yours respectfully,

(Signature and Seal)

Sramana THICH QUANG DO

Fifth Supreme Patriarch

Unified Buddhist Church of Vietnam