slogan-01

Theo Giáo Sư Trần Trọng San trong cuốn Đường Thi, thì đời nhà Đường bên Tàu (618-907), có thể nói là thời đại hoàng kim về thi ca của họ, vì người ta tìm thấy có gần 50 ngàn bài thơ nổi tiếng của hơn 2 ngàn thi nhân còn truyền tụng đến bây giờ. Chẳng những về lượng đã hơn gấp mấy lần so với bảy, tám trăm năm về trước, mà giá trị nghệ thuật cùng những tuyệt tác phẩm bất hủ cũng vượt trội hơn, kể cả các đời sau. Do vậy mà từ trước đến giờ, hễ nói đến thơ Tàu, là hầu như người ta chỉ nói đến thơ Đường mà thôi.        

 
Lịch sử thi ca từ phú của Trung Quốc cho đến thơ Đường được hình thành như thế nào, ắt phải cần sự nghiên cứu sâu rộng của những nhà văn học sử. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn đề cập sơ lược đến thơ Đường luật, đã được du nhập vào nước ta như thế nào, và một số cách chơi chữ, chơi thơ của các nhà thơ Việt Nam, mà trong phạm vi hạn hẹp, chúng tôi tìm hiểu được, để cống hiến quý vị thưởng thức trong lúc nhàn như. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng có xen vào một số bài thơ của mình, với mục đích làm phong phú thêm cho bài viết, chứ không dám sánh ngang hàng với những bậc tiền bối thi gia.
 
 
          Theo Văn Học Sử Yếu của Giáo Sư Dương Quảng Hàm, thì nền quốc văn của nước ta trước đây chỉ có Tục Ngữ, Ca Dao, nghĩa là loại văn chương bình dân và truyền khẩu. Đến đời Hàn Thuyên, là người đầu tiên biết làm thơ phú bằng quốc âm, nên có thể coi ông là “Ông tổ văn nôm”, loại văn bác học có theo quy tắc nhất định.
 
          Ông vốn họ Nguyễn, người huyện Thanh Lâm (nay là phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương), đậu Thái Học Sinh về đời vua Trần Thái Tôn (1225-1257). Theo sử chép, mùa Thu tháng Tám năm 1282 đời vua Trần Nhân Tôn, ông đang làm Hình Bộ Thượng Thư, có con ngạc ngư (cá sấu) đến sông Phú Lương (tức sông Nhị Hà). Vua sai ông làm bài văn vất xuống sông. Cá sấu bỏ đi. Vua cho việc ấy giống việc Hàn Dũ bên Tàu cũng làm bài văn đuổi cá sấu (khoảng năm 819), nên cho ông đổi họ Hàn.
 
          Bài thơ đuổi cá sấu đó, ông làm bằng Hán văn hay Việt văn thì sử không chép rõ. Nhưng sau đó, ông có làm nhiều bài thơ phú bằng quốc ngữ có nhiều người đương thời bắt chước. Vì thế mà đời sau làm thơ quốc âm thường gọi là thơ Hàn luật.
 
          Thế nhưng, Hàn luật không phải do ông sáng tác ra, đó chỉ là Đường luật (luật thơ phú của nhà Đường bên Tàu) mà ông biết ứng dụng vào làm thơ phú quốc âm thôi. Tuy vậy, công của ông không phải là nhỏ, vì ông biết theo Đường luật làm thơ phú nôm, thì về sau mới có người bắt chước, mà nền văn nôm của nước ta mới bắt đầu thành lập. Cũng từ đó, các văn sĩ không những làm thơ phú, mà còn làm các thể văn khác nữa. Có thể chia các thể văn của ta làm hai loại như sau :
 
          - Những thể mượn của Tàu như thơ cổ phong, thơ Đường, phú, văn tế, câu đối tứ lục, kinh nghĩa (lối bát cổ)…
 
          - Những thể thơ của ta là thơ lục bát, song thất lục bát, và các biến thể của hai lối ấy như hát nói, sẩm, lý, hề, điên, các câu nói lối trong tuồng tích… đều thuộc về loại văn vần cả. Còn các lối văn xuôi của Tàu (như tự, bạt, truyện, ký, luận…) thì các cụ ngày xưa ít viết bằng quốc âm. Mãi đến thời Pháp thuộc về sau, ta mới biết dùng đến tiểu thuyết, ký sự, kịch, diễn thuyết… là lối văn xuôi theo Tây học.
 
          Trong các thể văn thơ mượn của Tàu, thì thơ Đường luật hầu như được ta dùng nhiều hơn hết. Thơ Tàu từ trước đời Đường gọi là thơ Cổ phong hay Cổ thể, không đồng nhất số chữ trong mỗi câu và không có niêm luật bắt buộc. Đến đời Đường mới đặt ra thơ Đường luật, hay còn gọi là thơ Cận thể, có vần, niêm, luật, đối, nhất định. Rồi theo số câu, thơ Đường luật chia làm hai lối :
 
          1.- Tứ Tuyệt gồm mỗi bài 4 câu.
 
          2.- Bát Cú gồm mỗi bài 8 câu.
 
          Trong Tứ tuyệt còn chia ra là Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt (mỗi câu 5 chữ), hoặc Thất Ngôn Tứ Tuyệt (mỗi câu 7 chữ). Nhưng Thất Ngôn Bát Cú (7 chữ, 8 câu) rất được ưa chuộng ở nước ta. Bởi vì từ năm 1304, vua Trần Anh Tôn định lại chương trình thi Hội (Tiến sĩ), ngoài những đề thi như kinh nghĩa, chiến, chế, biểu, văn sách… ra, còn bắt buộc mỗi thí sinh phải làm một bài thơ về Đường luật Thất Ngôn Bát Cú trình lên. Thí sinh nào làm dở thì coi như bị đánh hỏng. Các vua sau này còn áp dụng cho cả thi Hương (Cử nhân) nữa. Do đó mà tất cả các nho sinh sĩ tử đều phải am tường về loại thơ này. Phép thi đó lưu truyền qua nhiều thời đại, mãi đến khi chánh quyền Bảo Hộ (thời Pháp thuộc) ra lệnh bỏ lối thi khoa cử cũ, thì thơ Thất Ngôn Bát Cú mới mất dần địa vị độc tôn của nó.
 
          Như đã nói ở trên, thơ Đường luật phải làm đúng theo vần, niêm, đối, luật, nhưng thơ Tàu không gò ép các câu 3-4 và 5-6 bắt phải đi vào một khuôn khổ nhất định như của nước ta. Có nghĩa là các câu 3-4 và 5-6 của Tàu tuy là phải đối từng cặp, nhưng muốn diễn đạt thế nào cũng được. Còn đối với cách làm thơ Đường luật của ta, thì câu 3-4 vừa phải đối nhau, mà còn đặt là “cặp Thực” hay “cặp Trạng”, bắt buộc hai câu này phải giải thích đầu đề cho rõ ràng. Hai câu 5-6 cũng đối nhau, nhưng đặt là “cặp Luận” bắt buộc phải đem ý của đầu bài mà bàn rộng ra.
 
          Thơ Đường luật của ta đã khó đến như vậy, nếu không dùng trong khoa cử, thì ít ai học đến. Cũng vì thế mà người làm thơ về thể loại này ngày một ít đi, nhất là giới trẻ hiện nay thường chuộng về thơ mới, thơ tự do, mà ít sở trường về thơ Đường luật nữa. Có thể một vài thập niên tới, loại thơ này phải đành cáo chung, chỉ còn có trong kho tàng văn học cổ mà thôi !
 
Trong thơ Đường luật của Tàu còn có các lối chơi thơ như Thủ Vĩ Ngâm, Liên Hoàn, Yết Hậu, Lục Ngôn Thể, Liên Ngâm hoặc Liên Cú, Thuận Nghịch Độc, và Họa Vận mà ta cũng có làm theo. Nhưng các cụ nhà ta còn thêm nhiều lối chơi thơ, chơi chữ nữa như thể : Tiệt Hạ, Vĩ Tam Thanh, Song Điệp, vv… để trong lúc trà dư tửu hậu xướng họa làm vui, kể cũng phong lưu tao nhã biết dường bao, âu đó cũng là cái thú thanh cao của thi nhân vậy ! Xin trích dẫn các lối Tiệt Hạ, Vĩ Tam Thanh, Song Điệp theo Việt Nam Văn Học Sử Yếu như sau :
 
 
 
- Tiệt Hạ : (Tiệt : ngắt; Hạ : dưới) là lối thơ câu nào cũng bỏ lửng như bị ngắt ở cuối, nhưng ý nghĩa rõ rệt, người đọc đoán mà hiểu được. Thí dụ :
 
 
 
Thác bức rèm châu chợt thấy mà…
 
Chẳng hay người ngọc có hay là…
 
Nét thu dợn sóng hình như thể…
 
Cung nguyệt quang mây nhác ngỡ là…
 
Khuôn khổ ra chiều người ở chốn…
 
Nết na xem phải thói con nhà…
 
Dở dang nhắn gởi xin thời hãy…
 
Tình ngắn tình dài chút nữa là…
 
                   Vô Danh
 
 
 
THẤY GÁI HỒNG NHAN
 
 
 
Thấy gái hồng nhan bỗng chốc mà…
 
Hỏi thăm cô ấy chửa hay đà…
 
Hình dung yểu điệu in như thể…
 
Diện mạo phương phi ngỡ tưởng là…
 
Ăn mặc ra tuồng người ở chốn…
 
Nói năng phải lẽ giống con nhà…
 
Ước gì ta được mà ta để…
 
Ta để đem vê để nữa ta…
 
(Không rõ tên tác giả)
 
 
 
TỰ THÁN
 
 
 
Tuy chẳng ra chi cũng gọi là…
 
Cũng phường râu tóc, cũng con nhà…
 
Gặp thời gặp vận thì toan những…
 
Lầm lối lầm đường mới hóa ra…
 
Ngồi ngẫm cuộc đời nào có mấy…
 
Thử liều với kiếp thế nhưng mà…
 
Ấy ai tai mắt, ai là chẳng…
 
Ta chẳng bằng ai có lẽ ta…
 
    (Không rõ tên tác giả)
 
 
 
- Vĩ Tam Thanh : (Vĩ : đuôi; Tam Thanh : ba tiếng) là ba tiếng cuối cùng, câu nào cũng phải âm giống nhau. Thí dụ :
 
 
 
Ta nghe gà gáy tẻ tè te,
 
Bóng ác vừa lên hé hẻ hè.
 
Non một chồng cao von vót vót,
 
Hoa năm sắc nở lóe lòe loe.
 
Chim tình bầu bạn kìa kia kỉa,
 
Ong nghĩa vua tôi nhẹ nhẽ nhè.
 
Danh lợi mặc người ti tí tỉ,
 
Ngủ trưa chưa dậy khỏe khòe khoe.
 
                                       Vô Danh
 
 
 
- Song Điệp : (Song : đôi; Điệp : Trùng nhau) là lối thơ mỗi câu hoặc ở đầu, hoặc ở cuối, đặt hai cặp điệp tự (chữ lặp lại). Thí dụ :
 
 
 
Vất vất vơ vơ cũng nực cười !
 
Căm căm cúi cúi có hơn ai ?
 
Nay còn chị chị anh anh đó,
 
Mai đã ông ông mụ mụ rồi.
 
Có có không không lo hết kiếp,
 
Khôn khôn dại dại chết xong đời.
 
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy,
 
Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi.
 
                                     Vô Danh
 
 
 
          Trong các cách chơi thơ, chơi chữ, có lẽ “Thuận Nghịch Độc” là một trong những lối khó khăn hơn hết, vì bài thơ phải làm đúng vần, niêm, đối, luật, mà còn phải Đọc Xuôi (Thuận) từ trên xuống, và Đọc Ngược (Nghịch) từ dưới lên, mà vẫn đúng theo ý của đầu đề. Chúng tôi xin đưa ra đây một số các bài thơ làm theo loại này, trong đó có bài Xuân Hứng của vua Tự Đức, và bài Vịnh Tranh Tố Nữ của Phạm Thái là độc đáo hơn hết, vì đọc xuôi là thơ chữ Hán, nhưng đọc ngược lại là thơ quốc âm của ta :
 
 
 
XUÂN HỨNG
 
(Đọc xuôi từ trên xuống là Hán văn)
 
 
 
Thi đàn tế liễu lộng hoa hài,
 
Khách bộ tùy sương ẩn bích đài.
 
Kỳ cục đa thanh phong giáp trận,
 
Tửu hồ khuynh bạch tuyết hòa bôi.
 
Sơ liêm thấu nguyệt hương lung trúc,
 
Tuyết án lăng hoa vị áp mai.
 
Phi phất thảo am đầu tĩnh điếm,
 
Ư tình cố nại thuộc quyên ai.
 
 
 
(Đọc ngược từ dưới lên là Việt văn)
 
 
 
Ai quen thuộc nấy có tình ư,
 
Điếm tĩnh đầu am cỏ phất phơ.
 
Mai áp mùi hoa lăng án tuyết,
 
Trúc lồng hương nguyệt thấu rèm thưa.
 
Bôi hòa tuyết bạch nghiêng hồ rượu,
 
Trận giáp phong thanh đánh cuộc cờ.
 
Rêu biếc in sương theo bước khách,
 
Hài hoa lỏng lẻo túi đàn thơ.
 
                                     Vua Tự Đức
 
 
 
VỊNH TRANH TỐ NỮ
 
  (Đọc xuôi là Hán văn)
 
 
 
Thanh xuân tỏa liễu lãnh tiêu phòng,
 
Cẩm trục đình châm ngại điểm trang.
 
Thanh rạng độ liên phi phất lục,
 
Đạm hi tán cúc thát sơ hoàng
 
Tình si dị tố liêm biên nguyệt,
 
Mộng xúc tằng liêu trướng đỉnh sương.
 
Tranh khúc cưỡng khiêu sầu mối bận,
 
Oanh ca nhật vĩnh các tiêu hương.
 
 
 
       (Đọc ngược là Việt văn)
 
 
 
Hương tiêu gác vắng nhặt ca oanh,
 
Bận mối sầu khêu gượng khúc tranh.
 
Sương đỉnh trướng gieo từng giục mộng,
 
Nguyệt bên rèm tỏ dễ si tình.
 
Vàng thưa thớt cúc tan hơi đạm,
 
Lục phất phơ sen độ rạng thanh.
 
Trang điểm ngại châm dừng trục gấm,
 
Phòng tiêu lạnh lẽo khóa xuân xanh.
 
                                           Phạm Thái
 
 
 
ĐỀN NGỌC SƠN (Hà Nội)
 
 
 
Đọc Xuôi :
 
Linh uy nổi tiếng thật là đây,
 
Nước chắn, hoa rào, một khóa mây.
 
Xanh biếc nước soi, hồ lộn bóng,
 
Tím bầm rêu mọc, đá tròn xoay.
 
Canh tàn lúc đánh chuông ầm tiếng,
 
Khách vắng khi đưa xạ ngát bay.
 
Thành thị tiếng vang đồn cảnh thắng,
 
Rành rành nọ bút với nghiên này.
 
 
 
Đọc Ngược :
 
Này nghiên với bút nọ rành rành,
 
Thắng cảnh đồn vang tiếng thị thành.
 
Bay ngát xạ đưa khi vắng khách,
 
Tiếng ầm chuông đánh lúc tàn canh.
 
Xoay tròn đá mọc rêu bầm tím,
 
Bóng lộn hồ soi nước biếc xanh.
 
Mây khóa một rào, hoa nước chắn,
 
Đây là thật tiếng nổi uy linh.
 
                                         Vô Danh
 
 
 
GỬI THĂM ÔNG TAM XUYÊN
 
 
 
Đọc Xuôi :
 
Tình chung mấy nẻo cách Tây Đông,
 
Cảnh nhớ đêm trăng thưởng chén nồng.
 
Sênh nhịp tiếng đàn ta với bạn,
 
Vận hòa câu vịnh ý ưa lòng.
 
Ngành chen trắng đã mai non khắp,
 
Lá nhuốm xanh còn liễu dặm trông.
 
Dành để cuộc chơi người nguyện ước,
 
Quanh vòng hỏi bến ngả ba sông.
 
 
 
Đọc Ngược :
 
Sông ba ngả bến hỏi vòng quanh,
 
Ước nguyện người chơi cuộc để dành.
 
Trông dặm liễu còn xanh nhuốm lá,
 
Khắp non mai đã trắng chen ngành
 
Lòng ưa ý vịnh câu hòa vận,
 
Bạn với ta đàn tiếng nhịp sênh.
 
Nồng chén thưởng trăng đêm nhớ cảnh,
 
Đông Tây cách nẻo mấy chung tình.
 
                    Tôn Thất Diệm (1853-1922)
 
 
 
NGHE TIẾNG ĐÀN NHỚ BẠN ĐÀNG XA
 
 
 
Đọc Xuôi :
 
Ai đàn tiếng vẳng vẳng nghe xa,
 
Nhớ tưởng thêm lòng nỗi thiết tha.
 
Lai láng lệ mình khi nghĩ lại,
 
Thẳng dùi chân đó lúc đi ra.
 
Tai quen giọng lý câu tình tự,
 
Ý thích lời ngâm khúc nguyệt hoa.
 
Phai lợt nỡ nào lòng chí quyết,
 
Dài lâu ngãi kết bạn cùng ta.
 
 
 
Đọc Ngược :
 
Ta cùng bạn kết ngãi lâu dài,
 
Quyết chí lòng nào nỡ lợt phai.
 
Hoa nguyệt khúc ngâm lời thích ý,
 
Tự tình câu lý giọng quen tai.
 
Ra đi lúc đó chân dùi thẳng,
 
Lại nghĩ khi mình lệ láng lai.
 
Tha thiết nỗi lòng thêm tưởng nhớ,
 
Xa nghe vẳng vẳng tiếng đàn ai.
 
         Nguyễn Khoa Vy
 
 
 
VIỄN TƯỢNG HÒA BÌNH
 
(Bài thơ làm năm 1968, hy vọng vào Hòa Đàm Paris)
 
 
 
Đọc Xuôi :
 
Sang thu cảnh nhuốm sắc cây ngàn,
 
Kể xiết bao tình cảnh chứa chan.
 
Khoan nhặt tiếng cầm thơ viện trúc,
 
Ngạt ngào hương huệ gió đình lan.
 
Vàng hoe nắng nước non hồ hải,
 
Biếc ánh trời mây khói ải quan.
 
Vang khúc nhạc hề ! ngưng cuộc chiến,
 
Sang thu cảnh nhuốm sắc cây ngàn.
 
 
 
Đọc Ngược :
 
Ngàn cây sắc nhuốm cảnh thu sang.
 
Chiến cuộc ngưng hề !  nhạc khúc vang.
 
Quan ải khói mây trời ánh biếc,
 
Hải hồ non nước nắng hoe vàng.
 
Lan đình gió huệ hương ngào ngạt,
 
Trúc viện thơ cầm tiếng nhặt khoan.
 
Chan chứa cảnh tình bao xiết kể,
 
Ngàn cây sắc nhuốm cảnh thu sang.
 
            Xuân Phong Nguyễn Ngọc Cầm
 
 
 
 
 
THƠ SẦU QUYỆN GIÓ
 
(Tả tâm sự người lính VNCH lưu vong sau 1975)
 
 
 
Đọc Xuôi :
 
Thơ sầu quyện gió gởi quê hương,
 
Lữ khách lòng mong nhớ võ vàng !
 
Mờ mịt núi sông còn nhục khổ,
 
Héo tàn hoa cỏ đến thương tang !
 
Cờ thua nước ngược, đành rơi súng,
 
Trống bỏ dùi đau, phải đứt đàn !
 
Xơ xác nỗi tan nhà hận tủi,
 
Mưa chiều khóc thảm lệ hòa chan !
 
 
 
Đọc Ngược :
 
Chan hòa lệ thảm khóc chiều mưa,
 
Tủi hận nhà tan nỗi xác xơ !
 
Đàn đứt, phải đau dùi bỏ trống,
 
Súng rơi, đành ngược nước thua cờ !
 
Tang thương đến cỏ hoa tàn héo,
 
Khổ nhục còn sông núi mịt mờ !
 
Vàng võ nhớ mong lòng lữ khách,
 
Hương quê gởi gió quyện sầu thơ !
 
               Nhật Hồng NTV
 
 
 
Về cách chơi chữ, ta còn thấy có nhiều bài thơ độc đáo như :
 
 
 
RẮN ĐẦU BIẾNG HỌC
 
(Mỗi câu thơ đều có tên Rắn)
 
 
 
Chẳng phải liu điu cũng giống nhà,
 
Rắn đầu biếng học lẽ không tha.
 
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ,
 
Nay thét mai gầm rát cổ cha.
 
Ráo mép chỉ quen tuồng láo lếu,
 
Lằn lưng cam chịu dấu roi da.
 
Từ rày Trâu, Lỗ xin siêng học, (1)
 
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.
 
                                    Lê Quí Đôn
 
(1)- Trâu, Lỗ là tên rắn, đồng thời cũng tên nước, quê hương của Khổng Tử và Mạnh Tử).
 
 
 
DẠI KHÔN
 
(Mỗi câu đều có một hoặc hai chữ Dại-Khôn)
 
 
 
Thế sự đua nhau nói dại-khôn,
 
Biết ai rằng dại, biết ai khôn ?
 
Khôn nghề cờ bạc là khôn-dại,
 
Dại chốn văn chương ấy dại-khôn.
 
Mấy kẻ nên khôn đều có dại,
 
Làm người có dại mới nên khôn.
 
Cái khôn ai cũng biết khôn là thế,
 
Mới biết trần gian kẻ dại-khôn.
 
                                  Trần Tế Xương
 
 
 
KÝ HÔN THÊ XUÂN LAN (1)
 
(Mỗi câu có kèm một vị thuốc Bắc)
 
 
 
Bài Xướng :
 
Một mình nghiêng ngữa chốn sà-sàng*
 
Trông bạn tần-giao dạ chẳng an.
 
Lời hẹn đã ghi tờ cố chỉ**,
 
Chén thề chưa rót rượu hồng hoàng.
 
Mối duyên tô hạp, chừng trông đợi,
 
Cái xác phù dung, luống võ vàng.
 
Buồn nỗi đơn quy chia mối thảm,
 
Bước sầu thổ biệt cách quan san !
 
              Mộng Lang Nguyễn Thành Phương (1886-1923)
 
 
 
Bài Họa :
 
Kiết cánh lòng em đã sẵn sàng,
 
Chàng về thục địa kính bình an.
 
Chia vui vừa lúc tan sương tử, (2)
 
Nhớ bạn buồn trông bóng đại hoàng. (3)
 
Run rủi mã đề, dời gót ngọc,
 
Bâng khuâng liên nhục, xót gan vàng.
 
Bồ đào cạn chén tay ngưng rót,
 
Bận nỗi hoàng anh lúc trẫy sang.
 
                Tam Cơ Trương Xuân Lan (1887-1966)
 
 
 
(1) - Hai bài thơ xướng họa này làm vào năm 1920, là của Mộng Lang Nguyễn Thành Phương nguyên là ông ngoại của tướng Nguyễn Khánh, và Tam Cơ Trương Xuân Lang là kế thất của ông Mộng Lang, vì bà ngoại ruột của tướng Khánh chết sớm.
 
- Những chữ in đậm và có gạch dưới là tên vị thuốc Bắc.
 
- * Sà sàng :  là vị thuốc Bắc, còn có ý chỉ là cái giường nằm.
 
- ** Cố chỉ : cũng còn là tờ giấy.
 
- (2) - Ý chỉ về buổi sáng.  (3)- Ý chỉ về buổi chiều.
 
 
 
XUÂN LỮ THỨ
 
(Mỗi câu có một vị thuốc Bắc in chữ đậm)
 
 
 
Quê người kiết cánh đón xuân sang,
 
Cố chỉ tay nương tả mấy hàng.
 
Chiều bạch đầu ông trông khắc khoải,
 
Sáng thanh sương tử nhớ bàn hoàn.
 
Bồ đào độc ẩm dư ly bạc,
 
Long não đa ưu thiếu bạn vàng.
 
Ý muốn đơn quy hồi cố lý,
 
Trời cao sơn giáp khó băng ngàn.
 
Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân
hoa-1
 
                                 

Kỹ Thuật

Trồng Ớt Nhiều Trái

Tổng hợp các cách ...

Cách Trồng & Ghép ...

Mời độc giả theo dõi ...

Phá mật khẩu iPhone ...

Skorobogatov đã có thể ...

Sức Khỏe

Đau Thắt Lưng

 Đau lưng có thể ...

Dùng Cần Sa ở thanh ...

Trẻ em dùng cần sa đều ...

Cảm thấy Khỏe hoặc ...

“Sức khỏe là trạng ...

Cách phòng virus ...

Hình thức lây nhiễm ...

Gia Chánh

Cách Pha Nước Mắm ...

Thức ăn ngon phải có ...

BÚN THỊT NƯỚNG thơm ...

Một tô bún thịt nướng ...

Bánh Dầy

Món bánh dễ làm và rất ...